Giấc mơ về một vầng trăng

Truyện ngắn của Hoàng Công Danh  

Mấy hôm rồi nàng bị đánh thức dậy giữa đêm. Không phải do ai cả, mà chính giấc mơ về một vầng trăng khiến nàng bật dậy. Nàng rón rén, khẽ đi nhẹ ra mở cửa, cố ý đừng để Sanh thức giấc. Một ngày của chồng đã quá mệt mỏi rồi, hãy để anh được ngủ ngon. Nàng nghĩ thế và lách nhẹ cánh cửa đi ra ngoài ngắm trăng.

Minh họa: Phạm Minh Hải

Minh họa: Phạm Minh Hải

  Nhưng chẳng có trăng, hôm nay đầu tháng, trăng non đã trôi vèo qua khoảng trời phố xá và biến mất từ đầu đêm rồi. Chỉ còn lại một bóng đèn đường móc ở ngoài kia bật sáng vô hồn, lạnh ngắt. Xưa nay chưa hề nghe người ta nói mơ thấy trăng bao giờ. Nàng cũng chẳng có chút năng khiếu nào về thơ ca đến nỗi phải mơ mộng vi vu như thế.

     Sáng hôm sau, vừa rửa mặt xong, Sanh đã cật vấn nàng:

     – Tối qua em không ngủ được à?

     – Dạ, em mơ thấy trăng.

     – Thấy trăng? – Sanh ngớ ra hỏi lại, rồi chàng bật cười sảng khoái – Em sắp làm thơ rồi đấy.

     – Em nói nghiêm túc mà. Chẳng hiểu sao mấy hôm liền, tối nào em cũng nằm thấy một cái trăng tròn, to, vàng tươi. Phía dưới là lũy tre chạy dài, giống làng mình vậy.

*

     Vợ chồng Sanh mới cưới nhau được nửa năm. Họ quyết định rời làng quê, chuyển lên sống ở thị xã, một phần để Sanh đi làm gần hơn, phần nữa để có cơ hội tìm việc cho nàng. Sinh viên ra trường chưa kiếm được việc đã vác cái bụng bầu, thế là phải cưới.

     Nơi họ tạm trú bây giờ là căn phòng trọ chật hẹp nằm khuất sau hẻm phố. Phố rất dài và hẻm rất tối. Căn phòng nhỏ chỉ đủ kê cái giường, sắp bếp ga nấu nướng ngay phía dưới chiếc bàn con. Tất cả vật dụng được bày trí trong trạng thái co mình lại, nằm yên thế. Chỉ cần một thứ nào dịch qua dịch về là ngay tức khắc những thứ khác cũng phải kê đặt lại để phù hợp. Hai vợ chồng cùng chia chỗ với những thứ vật dụng, không thể dành nhiều hơn khoảng không gian cho mình. Đứng trong phòng mà uốn éo thể dục buổi sáng là thể nào cũng đá nhầm nồi niêu, tay quờ quạng rất dễ đụng phải mớ áo quần móc bên tường.

     Chính trong cái cảnh sống ngột ngạt bí thở ấy, đến giấc ngủ cũng phải toan tính sắp xếp. Nhất là những hôm trời nóng nực, Sanh phải ôm gối nằm bệt xuống giữa sàn để nhường cái giường bé tí tẹo lại cho vợ. Chị đang mang thai, bụng đã cộm ra rồi, nằm chung giường nóng nảy lắm. Cái thế nằm của Sanh khi đã bệt dưới sàn nom vui đáo để, anh co mình như con tôm để tránh va phải bàn tủ, nồi bát.

     Trăng ngoi ra trong giấc ngủ của nàng, khi trên giường chỉ mình nàng với cái bụng bầu khệnh khạng. Nàng trở giấc, cười vờ một mình. Rõ thoải mái quá rồi còn mơ mộng trăng với chả sao. Và nàng định đánh thức anh dậy, mách với anh rằng có khi mơ thấy trăng là điềm báo sinh coi gái. Như chị Hằng. Nhưng biết đâu lại sinh thằng cu thì sao. Giống chú cuội.

     Giấc mơ chỉ là giấc mơ, chẳng đâu vào đâu. Có khi vì chán cái cảnh phố phường nhà trọ chật chội mà thấy một bầu trời đêm thanh bình cũng nên. Ngày nghĩ sao đêm mơ vậy. Suốt mấy tháng mỏi mòn chờ việc, bụng bầu to lên từng ngày mà cái hầu bao quà cưới đã vơi đi trông thấy, nàng lại nghĩ đến chuyện về quê. Nghĩ thế nhưng nàng không dám nói ra với chồng, sợ Sanh mắng cho là thứ đàn bà chỉ được cái giỏi bàn lùi.

*

     Sau bận đấy vợ chồng Sanh quyết định trở về làng. Lại một cuộc chạy trốn. Lần trước, chỉ vì ngại tiếng bấc tiếng chì của người làng về chuyện thằng cán bộ ăn lương biên chế lấy con vợ thất nghiệp mà hai người quyết định lên phố. Giờ thì họ lại trở về. Cái cảnh phố xá chật chội, đụng đâu tiền đó, thứ gì cũng đong bằng tiền. Một mình khoản lương của Sanh không thể trang trải được.

     Về làng. Ý định ấy cũng đã thai nghén trong đầu Sanh từ mấy bữa trước. Chàng cho rằng cái bản chất con nhà nông của mình ở phố không hợp. Vợ Sanh lại đang thai nghén, chừng ba bốn tháng nữa là đến kỳ sinh rồi. Ở phố, một mình Sanh sợ không xoay xở được. Chi bằng về dưới quê, có nội có ngoại đỡ đần cũng bớt nhọc đi nhiều.

     Một khi đồng tiền áp vào mặt, đè nặng lên hai vai thì sĩ diện nó tự nhiên mất tiêu đi. Cái nông nổi tuổi trẻ đã không còn nữa, thay vào đó là sự toan tính. Chao ôi, thế mà nửa năm trước, đùng đùng gói ghém đưa nhau lên phố, mơ một lối thoát cho cuộc sống hiện thực. Ngỡ như phố xá dang tay rộng mở đón lấy hai vợ chồng họ, để họ được thõa chí thực hiện kế hoạch kinh tế. Thế mà… Giờ họ không mặn mà với phố nữa.

     Trở về làng, trước mắt có thể sẽ phải “ăn bám” vào bố mẹ. Thà như thế còn có chỗ bám. Chứ ở thị xã, biết bám vào đâu. Giờ Sanh mới thấm cái câu mà ngày trước mẹ vẫn hay nói: “Ở làng lúa gạo sẵn, nương vườn có ngọn rau, sướng sung thì không nhưng chẳng phải lo đói”. Ngày đó nghe mẹ nói Sanh đã vội cười, bảo bố mẹ lạc hậu lắm, cứ tư duy nhà quê như thế thì bao giờ mới ngóc đầu lên được.

     Có lẽ tuổi trẻ của họ đã không được chuẩn bị sẵn một tư thế. Và sự vấp ngã khi bơi giữa nhiều dòng lý luận đã khiến cuộc sống bị đảo lộn nhanh chóng. Họ bơ vơ, trơ trọi khi chưa tìm ra lối thoát. Nửa phần tư duy chịu sự chấp nhận bám víu vào quê, nặng về cái thân thế bần cố nông. Nửa tư duy khác chịu ảnh hưởng của mớ kiến thức sống sượng của việc học và tiếp cận thông tin thị trường, thời cuộc.

     – Anh suy nghĩ kỹ chưa? – Nàng hỏi.

     – Thì còn suy nghĩ gì nữa – Chàng đáp bâng quơ.

     – Em hỏi thế thôi chứ anh quyết thế nào em cũng nghe.

     Sanh biết nàng nói như thế là muốn phó mặc cho anh tất cả. Nàng cam chịu vì biết mình đang là kẻ vô công. Dường như mọi câu nói, hành xử của nàng đều ở thế bị động. Nàng luôn có cảm giác mình là một gánh nặng của chồng, cứ đeo đẳng và bám theo anh. Vầng trăng hiện ra trong giấc mơ của nàng thực chất chẳng phải là thứ nhẹ bẫng bay lên mà nó là một bầu tâm sự, một khối u mang nặng nề đè lên giấc ngủ mỗi đêm. Cũng là ánh trăng, nhưng trăng của thi sĩ nó ảo huyền bay bổng, còn trăng của kẻ rảnh rổi là khối đá chìm dưới đáy sông đời.

     Những khi thấy nàng buông xuôi và có phần chìu chuộng chồng, Sanh lại thương nàng hơn lúc nào hết. Cố tìm cách để an ủi, động viên vợ bằng lời nói khéo nhẹ nhàng, sao cho nàng đừng có cảm giác bị thương hại:

     – Trước mắt cứ về làng đã em. Dù gì em cũng sắp sinh nở. Về dưới có mẹ, có các dì giúp cho. Trăm hay không bằng tay quen. Gì chứ khoản đẻ đái này các mẹ dưới quê là rành lắm.

*

     Trăng vẫn neo vào trong giấc ngủ của nàng. Có thể đó là một ảo ảnh nằng nặc bám víu, đè nén mỗi đêm. Giống như khát vọng về hạnh phúc cứ chập chờn, trêu ghẹo. Thấy đó mà không bắt được. Nó chỉ hé ra cho người ta thấy để rồi mãi mãi phải mỏi chân đi tìm kiếm.

     Hạnh phúc không phải đơn giản chỉ là có anh và có em. Giữa thời buổi bát nháo này, tình yêu là một khái niệm rất mơ hồ, còn hạnh phúc được xây dựng trên nền tảng của lý trí. Là áo cơm, gạo tiền. Tiêu chuẩn của nó chính là ấm no. Không ai thong thả ôm nhau mãi khi cái bụng rỗng. Không ai tự do hôn nhau khi giấy báo tiền nhà tiền điện tiền nước còn treo lủng lẳng ngoài bậu cửa.

     Và họ trở về quê, nơi mấy đời tiên tổ ông bà đã khai khẩn khai canh rồi bám trụ. Cái mảnh làng nhỏ nhắn, thanh bình, gói ghém ít ước mơ bình dị là có bát cơm đầy mỗi ngày. Nơi đó không quá nhiều bon chen giành giật. Khỏi phải nghe tiếng ồn ào xe cộ bươn nhau đi như trên phố mà mỗi lần tan sở bao nhiêu tiếng còi inh ỏi bấm náo cả lên khiến cho vợ chồng Sanh cảm thấy mình bị bỏ rơi về phía sau. Làng quê là nơi trở về cho những ai biết chấp nhận. Bây giờ, làng còn là chốn vớt vát tình thế, giải quyết một vấn đề rất thức thời của đời sống vợ chồng trẻ.

     Từ phố về làng cách mười cây số. Sanh chuyển hết đồ đạc trong một ngày. Nói một ngày nghe nó hoành tráng thế chứ thực chất chỉ hai chuyến xe máy là xong. Một chuyến chở vật dụng đồ đạc. Chuyến nữa chở vợ.

*

     Căn nhà cũ của ông bà nội Sanh nằm phía sau nhà thờ họ tộc. Ông mất cách đây mười năm, bốn năm trước bà cũng về với ông rồi, căn nhà để dành làm nơi thờ tự. Vợ chồng Sanh chuyển về căn nhà ấy ở, cũng nhân thể hương khói cho ông bà luôn.

     Bố mẹ đưa qua cho vợ chồng Sanh một bao lúa, bảo:

     – Cứ ăn hết thì sang bên nhà mà lấy về. Nhà mình tiền bạc không dư dật nhưng lúa má có dăm bảy đứa như chúng mày ăn cũng không hết.

     Sanh  bê bao lúa vào kê góc nhà rồi nói:

     – Chúng con tự lo được mà. Để chúng con tự làm lấy mẹ ạ. Cứ cho hoài lại sinh ỷ lại.

     – Lại sĩ diện rồi. Bố mẹ nuôi mày hai chục năm, có nuôi thêm một vài năm nữa cũng chả sao.

     – Ý con là… Bố mẹ cắt cho vợ chồng con sào ruộng. Dù gì cũng là người ở làng, có làm thêm mảnh ruộng để khỏi xấu hổ với xóm giềng.

     Bố gõ mấy ngón tay vào bàn, gật nhẹ đầu:

     – Hai sào ruộng hương hỏa của ông bà nội để lại, giao cả cho chúng mày đấy. Có sức làm nữa thì để đến vụ tới bố đấu thêm ruộng hợp tác. Làm ruộng, kể ra cũng có cái hạt lúa mà ăn, lúc nào có việc hiếu hỷ bán mà đi lại với người ta cũng hay. Bố mẹ nuôi mày lớn khôn, lo cho ăn học cũng nhờ vào thóc lúa cả đấy. Ây dà. Ai cũng chê làm nông cực khổ. Thế nhưng chả ai bỏ được ruộng vườn, lại còn phải trông chờ vào nó nữa đấy.

     Sanh ngồi yên lắng nghe từng lời của bố. Bây giờ thì anh không dám ý kiến như ngày trước nữa. Cái ngày anh chàng sinh viên mới tập teng ra trường, trở về quê nói huyên thuyên những kiến thức mới học được. Nào là chuyển dịch cơ cấu kinh tế, muốn làm giàu phải thay đổi tư duy, tiếp cận môi trường mới… Toàn những chuyện nghe to tát, trên trời dưới biển.

     Ngày đó bố bảo, tôi già rồi chẳng theo kịp thế thời, các anh các chị có học nói nghe hay, làm thử coi. Và Sanh lên phố, làm cái anh công chức mẫn cán rồi buổi tối trở về căn phòng trọ chật chội. Ôm vợ nằm mà lo ngay ngáy bạc tiền cho ngày mai. Chẳng thấy chuyển dịch cơ cấu đâu, chả thấy tiếp cận môi trường gì cả. Chỉ biết một điều là vợ chồng mình lạc lõng giữa phố. Giống kẻ lỡ ngốn quá nhiều kiến thức chay không tiêu hóa nổi. Tuổi trẻ của họ chìm giữa mớ lý luận ở tầm vĩ mô, bộp chộp muốn nắm lấy thời cơ trong khi không chịu ngắm lại cái tiền đề khiêm tốn mà mình đang có.

*

     Sanh dành hai ngày nghỉ cuối tuần cuốc vạt đất phía trước nhà trồng rau khoai lang. Vợ Sanh đã mua về thả bốn con lợn trong chuồng. Nuôi heo cũng được chớ sao. Chuối quanh nương, rau trước vườn. Sẵn có cả rồi. Suốt ngày Sanh lên thị xã làm việc, nàng ở nhà chăm vườn rau với lo nuôi bốn con heo. Độ ba tháng là bán được rồi. Sanh gọi đùa vợ là chị nuôi, nuôi bốn con heo với một ông chồng. Kế hoạch kinh tế từ lúa ruộng với heo chuồng xem ra cũng khả quan.

     Nàng đã quên đi cái bằng sư phạm của mình. Bằng chính quy hẳn hoi, hạng khá. Nhưng thời buổi này bằng khá mà làm gì, bằng giỏi còn chả ăn ai nữa là. Những bộ hồ sơ xin việc gửi chỗ nọ chỗ kia chả thấy hồi âm. Có người bảo thời nay xin việc phải có bốn yếu tố, xếp thứ tự như sau: tiền tệ, quan hệ, hậu duệ, trí tuệ. Xét bốn yếu tố đó nàng chỉ được cái cuối cùng. Mà cái cuối cùng có khi phải phụ thuộc một trong ba cái trước nữa mới hy vọng. Hai năm đi xin việc không được khiến cho nàng cảm thấy uể oải, muốn buông xuôi. Trong lúc đó cuộc sống vợ chồng có nhiều thứ phải lo. Dần dần nàng cũng thôi đợi chờ người ta trả lời chuyện việc vàn. Nhiều khi nàng quên phăng mình là người đã có trình độ cử nhân. Xóm làng hỏi thăm hoài cũng chán, chẳng ai đả động đến chuyện bằng cấp của nàng nữa. Chả như cái hồi mới biết tin trúng tuyển đại học, là cả xóm người ta đồn náo lên, bảo thể nào sau này đời con bé cũng sướng.

     Mỗi lần cho heo ăn, nàng lại đứng ngắm. Trông chúng tạp mồm ăn mới khoái làm sao. Hồi còn học cấp ba, nàng cũng từng phụ mẹ nuôi heo nên học được ít kinh nghiệm chăm sóc. Nuôi heo thì dễ, nhưng dân quê bảo phải “có tay” nuôi chúng mới chóng lớn được. Có tay, đơn giản là biết pha cám heo sao cho phù hợp với thời tiết, thường xuyên quét chùi giữ cho chuồng trại sạch sẽ… Xem ra nàng cũng là người có tay chăn nuôi.

*

     Từ bữa chuyển về làng sống nàng không còn nằm mơ thấy trăng nữa. Cuộc trở về lần này đã kéo nàng ra khỏi giấc mơ để tiếp cận hiện thực. Một thứ hiện thực dễ chấp nhận: có ruộng vườn, có vật nuôi, bỏ sức ra làm thì được ăn, không phải chạy đôn chạy đáo tranh đua với ai, khỏi vò đầu bứt tóc suy nghĩ kiếm nơi kiếm chốn. Và trong hiện thực ấy, ước mơ cũng bình dị hơn: lúa được mùa, heo chóng lớn. Nó gần lắm, trong tầm tay của vợ chồng sanh chứ không đùa cợt, bay bổng như ánh trăng kia. Hiện thực mới không có hình ảnh của bằng cấp và sự đợi chờ.

     Giữa mùa hạ cánh đồng đêm ướt rượt ánh trăng vàng. Trăng đổ xuống trùm lên hai sào ruộng hương hỏa bên nhà. Buổi tối hai vợ chồng kê chõng tre ra sân. Cái chõng này sinh thời ông bà nội vẫn hay đưa ra sân uống nước chè ngắm trăng và nhai trầu bõm bẽm. Tấm sáo tre lót thay chiếu đã lên màu nước láng bóng, ngả lưng nằm xuống mát rượi.

     Sang nằm xuống chõng, kê đầu lên đùi chân vợ. Chàng áp tai vào bụng vợ lắng nghe, rồi đưa tay lên xoa vào chỗ bầu:

     – Được sáu tháng rồi em nhỉ?

     – Dạ. Tới giữa thu là con chào đời rồi anh.

     – Cũng là mùa trăng sáng à?

     – Có khi lại nhằm vào trung thu đấy.

     – Hy vọng đừng sinh trúng ngày rằm.

     – Sao vậy anh?

     – Không biết. Nhưng ông bà ta nói người sinh đúng ngày rằm là cực.

     – Em cũng sinh vào ngày rằm đấy.

     – Hèn gì…

     Sanh bỏ lửng câu nói ở đó. Vợ trố mắt ra hỏi lại:

     – Ý anh là hèn gì số em cực phải không?

     Chàng bật cười:

     – Hèn gì tối nào cũng nằm mơ thấy trăng.

     Đêm hôm đó hai vợ chồng nằm ngủ trên chõng tre, giữa một miền trăng sáng quắc mùa hạ. Nàng kê đầu lên cánh tay chồng, nằm say giấc ngon lành. Đêm nay nàng không mơ thấy trăng nữa, giấc mơ ấy chuyển sang phía chồng.

     Sanh thấy một vầng trăng rằm tròn tỏ đậu trên ngọn tre, lúc ấy vang lên tiếng khóc của đứa con mới chào đời. Chàng luống cuống lấy cái sào tre chạy ra ngõ, vói tay chọc bể cái trăng. Nhưng trăng không tan, cứ đậu thế mà sáng.

     Sanh bất lực rú lên. Và ú ớ tiếng kêu bật khẽ qua đôi hàm răng.

Báo Văn nghệ trẻ (6/2012)