Thơ tán gái

Thơ là cái cái gì đó nói mãi nói hoài vẫn không hết. Thơ như nước sông mà mỗi người vát một gáo không bao giờ cạn được. Khái niệm về thơ vô cùng vô tận là vậy, người làm thơ viết lý luận cũng là chơi, cũng là chỉ để góp tiếng mạn tiếng đàm, không có ý muốn xây dựng nên một chuyên ngành thơ riêng, như một lĩnh vực khoa học thì khác.  

Hôm trước viết cái “Thơ- cuộc sắp đặt”, anh Nguyên Hùng đọc rồi bảo tớ bất ngờ nhưng những công trình lý luận về thơ không mấy hấp dẫn tớ, phê bình thì lại khác. Cái tham luận “Mạn đàm về thơ” đăng trên hội luận, quý anh bên đó gửi thư khen và bảo cho đăng ngay. Dè đâu mới lên trang thì có bác Do Trong vào chê là ấu trĩ, mất thời gian, may có nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo đỡ đạn cho.

Sau lần đó nghĩ lại, thôi, không viết lý luận nữa. Nhưng không viết thì cái gì mình nghĩ không biết nói cùng ai, bạn bè toàn dân tự nhiên cả. Vậy là chuyển sang viết phiếm đàm chơi. Nghĩ, lý luận giống củ khoai, chỉ làm cho người ta no bụng mà mau đói. Còn phiếm đàm thì giống cục xôi, có thể làm cho người nông dân chắc bụng đi cày đồng, con nít nó cũng vui, “phú ông xin đổi nắm xôi Bờm cười!”. Cái phiếm đàm này cũng vậy thôi! Mua vui là chính, không có tham vọng truyền tải quan niệm thơ.

1. Ngày còn nhỏ cứ nghĩ thơ là vần là điệu, là cấu trúc câu chữ. Như kiểu lục bát chẳng hạn, đọc vào xuôi lưỡi rất sướng. Từ đó cữ hễ cái nào có vần là thơ, kể cả hò vè hát nói. Lớn lên một chặng thì nghe chú đọc một đoạn thế này “anh thương em như bò thương cỏ, như thỏ thương trăng, như răng thương bánh, như lạnh cần mền, như đêm cần ngủ, như khoai đủ nấu với khoai lang, như cà ràng núp bê trong táo. Nếu anh nói láo thì cho anh té vào bụi hành”.

Nghe xong ôm bụng cười và thuộc ngay. Chú tôi bảo cái đó để đi tán gái, gặp cô nào đọc xong là dính liền. Bài đọc vần này cả bốn chú ruột của tôi thuộc làu, thành ra nhà tôi ai cũng lấy vợ sớm. Ông nội tôi ngồi uống nước chè cứ nói với hàng xóm, con tui răng đứa mô cũng cưới vợ sớm! Hoá ra là có bảo bối này đây. Con gái nghe xong cười thì cười, nhưng không xao động sao được?

Chú nói, cái đó là thơ. Và tôi nghĩ, thơ ngoài vần điệu ra phải làm cho người ta rung động, phải tán gái được mới là thơ! Nếu lấy công chúng làm thước đo cho giá trị nghệ thuật, thì con gái chính là thước đo cho thơ. Có lẽ vì thế mà người ta hay nói cùng nhau hai chữ “nàng thơ”, tức thơ phải kèm được nàng.

Rồi cứ cái suy nghĩ đó mà đi phán thơ xem bài nào hay bài nào dở. Hôm mượn được tập “Góc sân và khoảng trời”. Đọc một lèo thấy rất hay! Trần Đăng Khoa còn nhỏ mà làm thơ hay ghê, vần cứ sát rạt như đan gàu tát nước, chữ sau bắt nhịp chữ trước hệt cái nong mốt. Ngồi ngẫm một lúc thì thấy tập này không tán gái được, không có anh anh em em yêu đương như cái bài chú mình đọc. Vậy là lại nghĩ, thơ Khoa không hay! Thơ này chỉ tán được mấy…bà cụ, như bài nói với lá trầu mà mệ mình đọc chắc sẽ rất khoái, gặp Khoa thế nào cũng ôm chầm cho được. Mới nhớ ra hồi trước chú tôi nói, hôm đọc bài vần bò cỏ nghé đó xong là thím cho ôm liền. Rứa thì thơ Khoa cũng được rồi, cho ôm là tốt rồi!

   2.Các nàng rất mê thơ, không chối được, con gái thời nào cũng thế, mong manh như lá khoai mà thơ là giọt mưa trời. Một chút mưa ngoi nam tạt qua là ngọn ngoai ướt dèm, rũ xuống e lệ làm dáng, đẫm lấy giọt mưa kia. Thơ càng ngọt ngào, mưa càng rạt rào thì lá khoai càng tươi càng tốt phấn khởi mà lên ào ào. Các nàng cũng thế thôi, mình nói hay chừng nào thì dễ dính chừng đó,“nói ngọt lọt đến tận xương”. Khốn nỗi thi sĩ xưa nay vốn có nét trầm tư, tĩnh lặng kiểu các đạo sĩ tu thiền trên núi. Tâm hồn thì rất mãnh liệt, rất lãng mạn nhưng cái miệng lại thốt ra không như ý nghĩ, vậy là làm thơ thay cho lời nói.

Gặp một người con gái mới quen, không ai tự dưng mà đọc thơ cho nàng nghe. E nàng tưởng mình điên, con gái Huế sẽ bảo là“sến!”, con gái Sài Gòn bảo “anh này kỳ ghê!”, còn con gái Hà Nội thì lặng đi vì các nàng ngoài đó rất ý nhị. Mình có khiếu làm thơ mà muốn tán gái thì tốt nhất chép vào một tờ giấy bằng một nét chữ nắn nót, văn hay chữ tốt cũng ăn điểm kha khá.

Nhớ ngày còn ở Huế, có bận đi ngang ngả tư gặp lại một cô bạn học sư phạm, cô hỏi “nghe noái Danh có mần thơ ?”. Rứa là tối hôm đó thức mần thơ thiệt! Viết xong chép vào giấy gửi cho nàng rồi hộp hộp chờ đợi. Dè đâu mấy bữa sau nàng đến nhà mình chơi. Đến rất e thẹn, trông nàng lúc đó giống một nàng thơ cực kì (!) mặc dù chẳng biết nàng thơ thế nào. Trước đó nàng rất khô khan, từ khi đọc bài thơ tôi tặng thì mềm mại ướt át hẳn, thơ sinh ra nàng thơ (chứ không phải nàng thơ sinh ra thơ ?).

Nếu như dừng ở đó có khi hay, đến khi bài thơ in chung trong một tập thơ (cùng với các cụ làm thơ bút tre ở các câu lạc bộ!). Tôi đem tặng nàng, cứ tưởng nàng sẽ bất ngờ rồi yêu dữ lắm! Ngờ đâu đó cũng là lần chấm hết một chuyện tình. Sau có đứa bạn nói lại mới biết là nàng nói nàng chỉ yêu thơ, yêu tâm hồn người viết, gọi là yêu thi sĩ chứ không yêu nhà thơ vì nàng sợ…đói lắm!

Vậy là đụng đến chuyện “cơm áo không đùa với khách thơ”, các nàng yêu người chơi thơ chứ không yêu nhà thơ. Phải vì điều này mà ngày xưa các thi nhân thi sĩ có giá, còn từ khi có cái Hội Nhà Văn Việt Nam thì các nhà thơ không mấy quyến rũ nữa?

Ngày đó ở trọ Huế, viết được mấy bài thơ bạn gọi mình nhà thơ. Mình chối bai bải “tau chưa có nhà riêng, ở phòng trọ thôi, nên chưa phải nhà thơ mà mới chỉ phòng thơ”. Sau lần đó mấy đứa cứ gặp là kêu ‘phòng thơ’. Cũng oách chán! Thằng bạn bảo tôi dạy nó làm nhà thơ với, hay tàm tạm là phòng thơ thôi cũng được. Tôi nói, muốn làm nhà thơ thì viết thơ dán lên nhà, sẽ có nhà thơ. Hồi ở trọ hay dán báo lên tường cho sạch sẽ, vậy là đứa nào cũng thành “nhà báo”. Nhà thơ cũng dễ quá chừng chừng.

Từ dạo mình không tặng thơ cho người con gái Huế nữa, tâm hồn nàng khô héo hẳn, vậy là “nàng thơ” chết.

3. Sau có cô bạn đọc được thơ tôi trên tạp chí Cửa Việt, bảo mình nổi tiếng (cấp thôn xã thôi!), rồi hay tìm đến phòng trọ chơi. Thấy cô này hay hay, nhưng chưa yêu được. Đến phòng nàng chơi, thấy mấy cuốn tạp chí có đăng thơ mình được nàng trưng ra rất trân trọng, thậm chí là xếp trên cả cuốn lịch sử đảng. Về nhà băn khoăn, chắc nàng yêu mình thiệt. Đến lúc sinh nhật, tôi tặng nàng mấy bài thơ chép tay (vẫn kiểu tán gái cũ), nhưng nàng không thích. Quái! Không hiểu sao tạp chí đăng thơ mình thì nàng trân trọng, mà thơ mình viết tặng riêng thì nàng đem ra lót nền dọn kẹo bánh sinh nhật. Hoá ra là nàng tưởng tôi nổi tiếng lắm nên yêu sự nổi tiếng. Năm mươi ngay hết khó xong là chào nàng.

Con gái có một bộ phận không ít yêu người ta như vậy đó! Họ không yêu thơ mà yêu tiếng tăm của nhà thơ. Dẫu vẫn biết xưa nay chưa có cái gì dễ gây tiếng tăm như văn thơ chữ nghĩa. Làm khoa học tự nhiên, phát kiến ra vài công trình nghiên cứu thì cũng chỉ giới trong ngành biết với nhau. Còn làm văn nghệ, đôi khi có một bài thơ mà ai cũng biết, chẳng hạn như chỉ cần anh viết phản động một cái là nổi như Năm Cam liền. Các nàng có được người yêu tên tuổi cũng hãnh diện lắm chứ bộ. Yêu một thằng sinh viên làm thơ đi đâu ai cũng biết không hơn một thằng chỉ có biết tên ghi trên nhãn vở hay sao?

Đó là chuyện nhãn mác nhà thơ, chuyện tiếng tăm tên tuổi cũng “hút” các nàng như nam châm, nhưng là cái nam châm điện, lôi nguồn ra thì tuột ngay chứ không như nam châm vĩnh cửu đâu nhé! Dĩ nhiên con người ta ai cũng muốn có tên tuổi, cổ nhân dạy rằng “muốn lập thân trước hết phải lập danh”, hay là “làm trai đứng ở trong trời đất/ phải có danh gì với núi sông” (tuy rằng chữ danh này chưa hẳn là danh tiếng).

Ngày xưa, làm thơ là cách nổi tiếng dễ nhất, không cần phải có tiền vẫn làm được thơ để nổi tiếng. Còn thời nay, có muôn vàn cách để nổi tiếng, để trở thành các “sao”. Có tiền thuê một ông bầu rồi hát phè phè, nhún nhảy hip hop cho nhộn là thành thần tượng của giới trẻ. Hoặc không thuê ông bầu thì đi hát ở các quán cà phê, hay thậm chí đi hát rong ngoài đường cũng có người biết mình đấy! Vậy nên nhà thơ bỏ xó, muốn nổi tiếng bằng thơ phải thực tài, phải viết được thơ hay, đạo chữ nào người ta biết chữ đó.

Làm cái anh ca sĩ, nhiều khi bật đĩa CD của một “sao” nào đó, rồi ra sân khấu chóp chép cái miệng là khán giả vỗ tay rầm trời. Ai biết được anh nhái mồm, xưa nay có đạo văn đạo thơ đạo nhạc chứ có ai nói đạo giọng hát đâu. Cái này tôi bảo trời phú, nên giọng tôi nó giống cái giọng của “ngôi sao âm nhạc” đó là chuyện tất nhiên! Ngoại đề một tí, hiện nay nhạc hát nhép không phải ít đâu. Không thâu sẵn trước rồi khi lên sân khấu cứ mãi múa may quay cuồng, phô mông phô ngực thì tâm trí đâu nữa mà hát?

Chuyện của ngành âm nhạc, mình miễn bàn, trở lại với đề tài thơ tán gái. Hình thức yêu của các cô gái cơ bản là thế, yêu thơ hay là yêu sự nổi tiếng. Từng nghe nói nhà thơ vốn có sẵn trong mình cái háo danh (tất nhiên! Anh đừng có chối), nhưng mà nàng thơ lại háo danh hơn nữa. Mình làm thơ, có tài nổi tiếng đã đành, các cô chỉ việc yêu người làm thơ mà cũng nổi tiếng thì không phải vậy sao? Nhưng chớ trách họ, con gái nó thế, chính vì họ ưa sự nổi tiếng thì cánh làm thơ chúng mình mới dễ đào hoa đa tình ông ạ!

4. Nói về thơ hôm nay, khi mà sự cách tân đổi mới đang gây tranh cãi. Ba tiêu chí hay-lạ-mới được giới làm thơ cãi nhau túa xua mà quên mất một điều rằng, thơ phải làm cho người ta có cảm xúc-động-đậy khi chạm phải. Như khi làm thơ ta hay hút thuốc để kích thích hưng phấn mới có thơ hay, thế thì sao không nghĩ rằng người đọc thơ cũng cần có cảm xúc lâng lâng tựa mình vậy? Hoá ra anh làm thơ là chỉ để hưng phấn cho chính mình, mình thấy “tự rung” là được, còn đọc giả thì “sống chết mặc bay”. Thơ bây giờ có sa vào tình trạng này đấy!

Gọi là loại thơ triết học mà người đọc vào chả hiểu gì cả, vậy thì anh nên làm nhà triết học chứ sao lại đi làm nhà thơ. Mới-lạ-sâu, đồng ý! Nhưng không hay thì thành ra thừa. Như kiểu sinh viên mình đi học nước ngoài, đồ ăn tây thì mới đó, lạ đó, nhưng ăn làm sao được, nó cứ béo nhầy nhậy. Người tây nó to con thì cái hậu môn nó to, ăn vào đi ra được. Người Việt mình bé tí tẹo, thỉnh thoảng còn phải ăn khoai cho khỏi táo bón thì làm sao ngốn được bơ mỡ của họ.

Thơ ta cũng như vậy đó, cứ học tây rồi làm theo tây, đến khi đọc giả nuốt vào thì…không tiêu hoá được. Khổ! Nên đừng có thấy tây mà tưởng bở, tây bây giờ còn thèm phát chán Việt Nam mình. Nói không ngoa, người Việt mình không có phong trào cưới vợ tây, chứ tây nó cứ sang rước con gái Việt mình về làm vợ. Con gái Việt ta đáng giá đến thế mà các nhà thơ mình không cảm được hay sao? Lại đi ưa hàng tây.

Tôi chứng kiến rồi, cái gì của tây nó cũng dễ làm quen, người Việt mình dễ kết thân. Con gái ở Belarus chỉ cần uống với nó ly rượu là đêm nằm ngủ với nhau được, nhưng chả tình nghĩa chi cả, xong việc ai đường nấy. Ta làm quen, học thơ tây cũng thế thôi, rất dễ nhưng không bền, không hợp văn hoá thì chịu. Chỗ này tôi chỉ nói một phần chứ không phải là tất cả, mong bạn đọc hiểu cho điều đó.

Hồi học cấp ba chỉ biết đến thơ Xuân Diệu, thơ Xuân Quỳnh… (chưa biết thơ Xuân Sách) thế mà làm thơ khéo lắm nhé! Ngồi học nhìn ra thấy con bướm thì làm thơ bướm, thấy chim thì làm thơ chim, thấy ve kêu phượng nở bảo hè về, thấy áo trắng sân trường bảo thu đến. Thơ lúc đó hồn nhiên, chưa biết cách tân củ tỏi gì nhưng vẫn tán gái được. Có dạo thức ba đêm uống nước trà (hồi đó chưa biết rằng thơ phải là rượu mới đúng bài!) làm bài thơ dài trăm câu. Hôm sau gửi cho một cô bé học trên lớp mình một tầng, “nàng học trên tôi một dãy/ cách nhau đúng một bức sàn/ hai tâm hồn chưa đồng điệu/ chưa một lần sang làm quen”. Nàng đọc rồi mỗi lần qua cửa lớp lại nhìn vào chỗ tôi ngồi, mình quay ra thì nàng e thẹn bỏ chạy. Dạo đó cuối cấp phải học để thi nên chưa chú ý đến yêu ót, nhưng chí ít cũng hiểu ra rằng, thứ thơ mình học đòi Xuân Diệu thuộc dạng tán gái được.

Cứ đà đó mấy thằng bạn bảo tôi sau này chắc cua gái tốt. Ngày đó nghe nói vậy sướng lắm, mình viết xong đọc lại còn thấy mượt mà như cỏ tháng giêng thì con gái tim không rộn lên mới là lạ. Bây giờ thì khác rồi, nghe bảo thơ mới, thơ hậu hiện đại cũng thử cho biết, viết xong đọc lại thấy khô như ngói tháng tám. Mới thấy mình bị kẹp bởi những nan gỗ lý luận thiếu thực tế.

5. Bận ở Huế, vào nhà xuất bản Thuận Hoá hỏi để in một tập thơ cho vui. Gặp một ông nào đó (không phải ông Tờ giám đốc đâu), ổng bảo “bản thảo đâu?”. Tôi nói dạ chỉ hỏi hình thức xuất bản chứ bản thảo không mang theo. Ông đó nói, làm bản thảo đem lên, họ duyệt và biên tập, một tuần sau đến nhận, trả phí thẩm duyệt rồi cầm giấy phép đi in, tự phát hành. Tôi hỏi thế không có cách nào nhận in cho tác giả được sao? Ông nói thơ bây giờ phải cỡ như Văn Cầm Hải mới bao trọn gói được.

Nghe vậy, về lên mạng đọc Văn Cầm Hải, thấy họ khen nhiều. Mình đọc vào chưa hiểu chi cả, bây giờ đọc lại hiểu kha khá, vẫn biết thơ lạ đấy, mới đấy, là tư duy lập trình nhảy cóc đấy, lâu nay mình vẫn tôn trọng. Nhưng nói cho vui, thơ anh Hải đem đi tán gái thì không ăn thua rồi. Tại sao ư? Tại con gái nó chưa đủ sâu để hiểu thơ tới mức đó, với lại thời nay các nàng bận làm đẹp, bận tô son trát phấn, thời gian rất quí! Đọc thơ là lướt qua gấp gáp như cánh chim gặp bão chứ không nhởn nhơ tà tà được. Mà thơ như Văn Cầm Hải đọc kiểu “cưỡi ngựa xem hoa” thì chưa thấy hay. Các nàng vì thế mà khó rung cảm đấy, anh Hải ạ! Anh đừng buồn vì tôi nói như vậy bởi ở đây chỉ một số nhiều nhiều các nàng nhưng không phải là tất cả.

* * *

Như đã nói ở đầu, đây chỉ là một phiếm đàm, không có ý nêu quan điểm làm thơ. Nhưng tôi vẫn hứng thú hơn với những bài thơ gây cho mình được cảm giác, đó là điều trước tiên khi chạm phải cái mới cái lạ. Mà tựu trung thì mới-lạ cũng là vì muốn có thơ hay, muốn làm cho thơ bật lên được sợi dây rung cảm trong lòng người đọc. Vậy phải chăng cái mới cái lạ không đi sau trước cái hay, mà tất cả chúng đồng nhất với nhau trong một mối quan hệ biện chứng. Nói theo nhà Phật là “nhân duyên”, cái này có nên cái kia có.

Nếu anh đặt vào tay tôi một vài chữ khiến mình xao xuyến, có cảm giác, dù nó không vần điệu chi cả, thì tôi sẽ coi nó là THƠ. Và thơ đó đem đi tán gái, tôi cá với anh là dính trăm phần trăm.

Minsk 08.08.08

HOÀNG CÔNG DANH